Myo-Inositol cải thiện các thông số tinh trùng và hormone sinh sản ở bệnh nhân nam vô sinh vô căn

Tổng quan

Vô sinh

Vô sinh là một vấn đề trên toàn thế giới, tác động mạnh mẽ đến cả mặt y tế và tâm lý xã hội ở các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản. Nguyên nhân do nam giới chiếm 40% các trường hợp vô sinh. Các tình trạng như giãn tĩnh mạch thừng tinh, thiểu năng tuyến sinh dục và thiểu năng sinh dục là một trong nhiều nguyên nhân gây vô sinh nam. Tuy nhiên, một tỷ lệ đáng kể vô sinh nam không được chẩn đoán, được gọi là vô sinh vô căn.

Myoinositol cải thiện sức khỏe tinh trùng

Myoinositol (MI) là dạng inositol có hoạt tính sinh học cao nhất, có vai trò chống oxy hóa, thường được dùng trong các sản phẩm hỗ trợ sinh sản nam và nữ. MI chủ yếu được sản xuất bởi các tế bào Sertoli, tham gia vào quá trình điều hòa của sự trưởng thành, độ di động và phản ứng acrosome của tinh trùng. Ngoài ra, MYO hoạt hóa phospholipase C, dẫn đến sản xuất InsP3 và mở các kênh canxi, gây ra sự gia tăng nồng độ canxi tế bào và do đó làm tăng Ca2+ của ty thể giúp kích thích cơ chế oxy hóa và sản xuất ATP, cải thiện chức năng ty thể của tinh trùng.

Trên cơ sở đó, Aldo E. Calogero và các cộng sự đã tiến hành một thử nghiệm mù đôi, ngẫu nhiên, có đối chứng với giả dược để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của MI (Inofolic; Lo.Li Pharma srl, Rome, Ý), ở nam giới bị vô sinh vô căn.

Đối tượng và Phương pháp

Đối tượng

Nghiên cứu được tiến hành trên 194 bệnh nhân nam vô sinh vô căn, không có con sau 2 năm dù không sử dụng các biện pháp tránh thai. Những bệnh nhân này được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: Nhóm 1 (n=98) nhận 2 gói Inofolic mỗi ngày; Nhóm 2 (n=96) nhận 2 gói giả dược giống hệt ( Mỗi gói Inofolic chứa 2 g MI và 200 μg axit folic. Mỗi gói giả dược chỉ chứa axit folic).

Phương pháp

 Đánh giá tác động của myoinositol đối với các thông số tinh trùng và hormone sinh sản ở thời điểm ban đầu và sau 3 tháng điều trị ở nam giới bị vô sinh vô căn. Đánh giá nội tiết tố, bằng phương pháp radioimmunoassay, bao gồm các xét nghiệm cho hormone LH, hormone FSH, prolactin (PRL), Inhibin B và testosterone. Phân tích tinh trùng thường quy được thực hiện theo tiêu chí của WHO (WHO,2010).

Kết quả

Kết quả thu được, MI làm tăng đáng kể nồng độ Inhibin B trong huyết thanh (Trước: 86,0 ± 24,0; Sau: 105,0 ± 28,0) , mật độ tinh trùng (Trước: 20,2 ± 4,6; Sau: 26,4 ± 4,4), tổng số tinh trùng ( Trước: 46,6 ± 12,6; Sau: 57,6 ± 14,4), tỷ lệ tinh trùng có khả năng di chuyển tiến tới (Trước: 22,2 ± 2,1; Sau: 27,6 ± 1,8) và tinh trùng có phản ứng acrosome ( Trước: 34 ± 8; Sau: 41 ± 11) so với giả dược. Hơn nữa, MI làm giảm đáng kể nồng độ FSH (Trước: 16,7 ± 4,1; Sau: 10,7 ± 4,1) và LH ( Trước: 12,1 ± 2,6; Sau: 8,8 ± 2,6) so với giả dược.

Kết luận

Nghiên cứu cho thấy, MI là một chất bổ sung an toàn có thể tái cân bằng đáng kể nồng độ gonadotropin và Inhibin B trong huyết thanh và tăng các thông số tinh trùng ở bệnh nhân vô sinh vô căn. Do đó, khuyến khích sử dụng MI ở những bệnh nhân này, mặc dù cơ chế chi tiết của nó ở cấp độ tinh hoàn chưa rõ ràng.

Nguồn: Aldo E. Calogero (2015), Myoinositol improves sperm parameters and serum reproductive hormones in patients with idiopathic infertility: a prospective double-blind randomized placebo-controlled study, Andrology.

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/25854593/